Ancient Anamolies | Human | Homo Sapiens kensington canada gé

Ancient Anamolies

Uploaded by Chris Henderson

Related Interests

Rating and Stats

0.0 (0)

Document Actions

Share or Embed Document

Sharing Options

Embed
View MoreCopyright: Attribution Non-Commercial (BY-NC)Download as PDF, TXT or read online from ScribdFlag for inappropriate content

Recommended Documents

Documents Similar To Ancient Anamolies

Skip carouselcarousel previouscarousel next

More From Chris Henderson

Skip carouselcarousel previouscarousel next
">

Screen Reader Compatibility Information

Due to the method this document is displayed on the page, screen readers may not read the content correctly. For a better experience, please download the original document and view it in the native application on your computer.
  PDF generated using the open source mwlib toolkit. See http://code.pediapress.com/ for more information.PDF generated at: Mon, 12 Mar 2012 23:32:37 UTC Ancient Anomalies Deducing the Mysteries of Prehistory   Contents Articles Strange Evolution 1 Human1Recent African origin of modern humans25  Homo erectus soloensis 36  Homo floresiensis 38Mitochondrial DNA53Lowest common ance
kensington canada gé

カナダのガチョウアウトレットトロント
canada ganso chicago
canada goose naisten takki

Phan Hạnh viết gì

Just another WordPress.com weblog

jump to navigation

Toronto, Thành Phố Di Dân Tháng Bảy 10, 2017

Posted by phanhanh in Uncategorized.
add a comment

Toronto, Thành Phố Di Dân
PHAN HẠNH

Vùng Đại thủ phủ Toronto có 5.5 triệu dân (riêng thành phố Toronto là 2.5 triệu) được coi là một trong những thành phố đa văn hóa lớn nhất trên thế giới và là đại đô thị an toàn nhất của Bắc Mỹ. Theo dữ liệu do Sở Thống Kê Canada đưa ra năm 2006, Toronto có nhiều sắc dân khác nhau hơn các thành phố New York, Los Angeles và Miami.

Cư dân Toronto nói 140 ngôn ngữ và thổ ngữ khác nhau và hơn 30% dân số nói tiếng khác hơn tiếng Anh và tiếng Pháp ởi đến Canada chọn Toronto để định cư. Số di dân ở Toronto chiếm 1/5 của tổng số di dân trên toàn quốc. Hơn 30% di dân Toronto không nói tiếng Anh hoặc tiếng Pháp ở nhà.

Ngôn ngữ lạ được dùng ở nhà nhiều nhất là tiếng Hoa (với 2/3 nói tiếng Quảng đông và 1/3 nói tiếng Quan thoại), tiếng Tamil (tiếng Tích Lan), tiếng Ý, tiếng Tây ban nha và tiếng Bồ đào nha. Chỉ có 5% di dân là không nói được tiếng Anh hay tiếng Pháp. 2% nói được hai thứ tiếng lạ trở lên ở nhà, như trường hợp người Việt gốc Hoa chẳng hạn.

Năm 2006, dân số Toronto bằng 8% dân số trên toàn quốc. 30% di dân mới đến Canada chọn Toronto để định cư. Số di dân ở Toronto bằng 1/5 tổng số di dân trên toàn quốc.
Trong khoảng thời gian 5 năm từ 2001 đến 2006, Canada tiếp nhận tổng cộng 1,109,980 người từ khắp nơi trên thế giới. 267,855 người (tương đương 25%) di dân nầy chọn Toronto làm nơi sinh sống, tức vào khoảng 55,000 người mỗi năm.

Phân nửa dân số Toronto (1,237,720 người) sinh ra từ nước khác ngoài Canada, gia tăng 48% so với mười năm về trước. Trong năm 2006, phân nửa số di dân Toronto cư ngụ ở Canada chưa đầy 15 năm. Hơn phân nửa trên 25 tuổi, 7% chưa đầy 5 tuổi, 16% từ 6 đến 14 tuổi, và 22% từ 15 đến 24 tuổi. Trong năm 2006, số dân cư trong thành phố Toronto bằng 45% tổng số cư dân của toàn vùng đại thủ phủ, 52.4% là di dân. So với toàn tỉnh bang Ontario, tỉ số di dân trong thành phố Toronto là 36%. 47% dân số Toronto khai họ thuộc thành phần dân thiểu số, tăng 42.8% so với 5 năm trước.

Dân thiểu số hiển nhiên ở Toronto gia tăng 10.6% so với năm 2001 và 31.8% so với năm 1996.Năm nhóm dân thiểu số hiển nhiên đứng đầu ở Toronto là:
• Gốc Nam Á với 298,372 người, bằng 12%
• Gốc Trung Hoa với 283,075 người, bằng 11.4%
• Gốc châu Phi với 208,555 người, bằng 8.4%
• Gốc Phi-luật-tân với 102,555 người, bằng 4.1%
• Gốc châu Mỹ La Tinh với 64,860 người, bằng 2.6%.

Sở Thống Kê Canada định nghĩa người thiểu số hiển nhiên (visible minorities) là những người không thuộc các nhóm người da trắng và thổ dân Bắc Mỹ (người da đỏ). Do đó, có thể nói người thuộc sắc dân da vàng và da ngâm đen được coi là người thiểu số hiển nhiên. Từ năm 1981 đến năm 2006, dân thiểu số hiển nhiên ở Canada tăng gấp bốn lần, từ 1.1 triệu năm 1981 lên 5 triệu năm 2006. Trên toàn quốc, 96% dân thiểu số hiển nhiên tập trung sinh sống ở các đại đô thị, so với 68% dân số nói chung. Điều này dễ hiểu, vì người di dân có khuynh hướng chọn những thành phố lớn để định cư, nơi mà họ thể gần gũi với người đồng hương để tìm sự đùm bọc giúp đỡ.
Bất chấp sinh quán và thời gian đặt chân đến Canada, mọi người phải khai báo gốc sắc tộc của mình tức thuộc giống dân nào. Họ có quyền khai báo hơn một sắc dân nếu thích hợp, và việc nầy xảy ra là thường. Những người hay khai có hai hoặc nhiều hơn gốc sắc dân thường là những người có gốc gác ở châu Âu; ông cha của họ sống ở Canada đã nhiều thế hệ và dễ bị pha trộn. Người mới đến thường khai báo chỉ thuộc một gốc sắc dân mà thôi.
Thống kê dân số năm 2006 cho thấy cư dân Toronto thuộc hơn 200 sắc dân khác nhau. Trong số nầy, 28% có gốc châu Âu, 19% gốc đảo quốc Anh (gồm Anh cát lợi, Tô cách lan và Ái nhĩ lan), 16% gốc Đông Á và Đông Nam Á, và 10% gốc Nam Á.
Cư dân Vùng Đại Đô Thị Toronto thuộc nhóm thiểu số hiển nhiên là: 684,070 người Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Fiji), 486,330 người Hoa, 352,220 người da đen, 171,980 người Phi luật tân, 99,295 người châu Mỹ La Tinh, 75,475 người Tây Ấn (Iran, Iraq, Syria, Palestine, v.v.), 70,215 người Đông Nam Á, 55,265 người Đại Hàn, 53,430 người Ả Rập, 19,010 người Nhật.
Cư dân Toronto thuộc nhóm thiểu số hiển nhiên là: 298,370 người Nam Á, 283,075 người Hoa, 208,555 người da đen, 102,555 người Phi luật tân, 64,855 người châu Mỹ La Tinh, 42,755 người Tây Á, 37,495 người Đâong Nam Á, 34,220 người Đại Hàn, 22,485 người Ả Râp, 11,965 người Nhật.
Theo dự đoán, dân số thành phố Toronto vào năm 2031 sẽ là 3 triệu người và dân số Vùng Đại Đô Thị Toronto sẽ là 7.5 triệu hoặc cao hơn.
Trong năm 2006 có 1,162,630 cư dân Toronto là người thiểu số hiển nhiên, bằng 46.9%.
Trong số nầy, hết 70% là người châu Á. Mỗi năm, phân nửa di dân mới vào Canada chọn Toronto làm nơi định cư.
47% cư dân Toronto có sinh ngữ mẹ đẻ khác với Anh-Pháp ngữ. Năm ngôn ngữ khác được dùng nhiều nhất ở Toronto là: Hoa ngữ với 420,000 người dùng; Ý với 195,000 người dùng, Punjabi với 138,000 người dùng, Tagalog/Pilipino với 114,000 người dùng, Bồ đào nha với 113,000 người dùng.
Về tôn giáo, người theo Thiên chúa giáo nhiều nhất với 33.4%, Tin Lành 6.9%, Hồi giáo 6.7%, Ấn độ giáo 4.8%, Do thái giáo 4.2%, Phật giáo 2.1%.
Các khu tập trung di dân
Là một thành phố đa văn hóa tiêu biểu, Toronto có nhiều khu vực di dân cùng gốc gác tụ tập lại với nhau tạo thành các Phố Tàu, Phố Hàn, Phố Ý, Phố Ấn, Phố Hy Lạp, vân vân, nhưng chưa có một Phố Việt đặc thù như các Little Saigon ở Mỹ. Thành lập được hẳn một khu phố buôn bán riêng cho cộng đồng di dân của mình là một niềm tự hào chính đáng. Nhưng di dân gốc Việt ở Toronto dễ dàng hòa nhập vào các Phố Tàu vốn đã thiết lập sẵn từ trước khi làn sóng người Việt đến đây. Di dân Trung Hoa có mặt ở Toronto từ năm 1878, trước người Việt chúng ta một thế kỷ.
Thêm một yếu tố nữa là cộng đồng người Trung Hoa đông mạnh gấp mười lần cộng đồng người Việt, trong số đó có cả thành phần rất đáng kể là người Việt gốc Hoa; sự hòa nhập càng có nhịp cầu dễ dàng hơn.
Sự hòa nhập nầy thể hiện rõ nét nhất tại Phố Tàu Spadina-Dundas với nhiều bảng hiệu chữ Việt xuất hiện xen kẽ với các cửa hiệu người Hoa. Sự có mặt của tiệm Việt thưa dần tại các khu Phố Tàu khác ở Broadview-Gerrard, Phố Tàu Mississauga, North York, Scarborough, Markham và Vaughan.

Chưa có một khu phố riêng biệt mang sắc thái Việt Nam rõ nét, chưa có một trung tâm cộng đồng riêng cho mình để sinh hoạt, chúng ta đừng lấy đó làm buồn. Nhiều cộng đồng di dân khác đông hơn chúng ta, lâu đời hơn chúng ta, nhưng vẫn chưa làm được điều đó. Như trường hợp cộng đồng người Phi luật tân chẳng hạn: họ đông gấp ba lần cộng đồng chúng ta, họ có mặt ở đây trước chúng ta cả mấy chục năm, nhưng họ sống tản lạc khắp nơi và không có một khu phố riêng.

Cộng đồng người Hy Lạp và Phố Hy Lạp

Phố Hy Lạp nằm trên đường Danforth Avenue khoảng giữa đường Chester Avenue và Dewhurst Boulevard nằm về phía đông trong thành phố. Đây là nơi tập trung người Hy Lạp hải ngoại đông nhất trenn thế giới và cũng là nơi có mật độ cao nhất về số lượng các quán ăn trên một cây số vuông. Vì thế vào tháng Tám hàng năm Phố Hy Lạp có tổ chức một lễ hội mang tên Taste of Danforth kéo dài trong ba ngày để công chúng và du khách đến thưởng thức hương vị thức ăn Hy Lạp là chính, nhưng đồng thời còn có nhiều thức ăn vùng khác nữa. Lễ hội có sân khấu trình diễn ca nhạc, các trò chơi thể thao và trò chơi giải trí cho trẻ em. Lễ hội diễn ra ngay trên mặt đường Danforth Avenue khiến mọi lưu thông xe cộ đều bị ngăn cấm.

Với các nhà phố vẫn còn giữ phong cách kiến trúc cổ, với sự cải tiến và canh tân gần đây cùng với sự thành lập một công viên nhỏ ở ngã tư Danforth-Logan, Phố Hy Lạp trở nên sang trọng hơn và được nhiều du khách đến thăm viếng hơn. Năm 2008, lễ hội Taste of Danforth thu hút một triệu người tham dự, so với con số khiêm nhường năm ngàn người vào năm 1994.

Di dân HyLạp đầu tiên đến Toronto từ năm 1909. Tính đến năm 2006, cộng đồng người Hy Lạp ở Toronto là 150,000 người trên tổng số 243,000 người Hy Lạp trên toàn quốc Canada. Nhiều di dân Hy Lạp ở Canada thành công trong các lãnh vực kinh doanh, báo chí, truyền thông, kịch nghệ, chính trị và thể thao.
Tony Clement, cựu dân biểu tỉnh bang Ontario và hiện là dân biểu liên bang thuộc Đảng Bảo Thủ nguyên là một di dân đến Canada từ lúc còn bé, có cha là người Hy Lạp và mẹ là người Canada. Tên khai sinh của ông là Tony Panayi, sau đó đổi theo họ của cha ghẻ là chính trị gia Ontario John Clement. Các dân biểu tại chức người Canada gốc Hy lạp khác là Sophia Aggelonitis, John Cannis, Jim Karygiannis.
Một di dân gốc Hy Lạp nổi tiếng khác là Mike Lazaridis, nhà sáng lập công ty Research In Motion (RIM) chế tạo ra máy điện toán cầm tay BlackBerry. Gia đình ông từ Thổ nhĩ kỳ di dân sang Canada năm 1966 khi ông còn là một cậu bé 5 tuổi. Từ năm 2004 tới năm 2009, vợ chồng ông hiến tặng cho Trường Đại Học Waterloo một số tiền tổng cộng là 225.5 triệu Gia kim. Năm 2000, ông được trường này trao bằng tiến sĩ kỹ sư danh dự và ba năm sau, trở thành viện trưởng của trường.
Những người Việt tị nạn đặt chân đến Toronto trong những thập niên trước chắc không quên Chợ Đầu Bò mà vị chủ nhân của nó, ông Steve Stavro, cũng là một di dân Hy Lạp. Stavro cùng gia đình đến Toronto để đoàn tụ với cha đã sang đây trước vào năm 1927. Cậu bé bảy tuổi giúp cha trông coi một cửa tiệm tạp hóa trên đường Queen gần đường Coxwell. Học hết lớp 10, Steve phải nghỉ học để làm việc toàn giờ, dần dà mở tiệm tạp hóa riêng năm 1954 và đặt tên Knob Hill Farms tại địa chỉ 425 Danforth Avenue. Chợ Đầu Bò phát triển mạnh với những tiệm khổng lồ có diện tích lên đến 31,500m2 lớn nhất thế giới. Ông được ban tặng huân chương Order of Canada năm 1992. Năm 2000, hệ thống Chợ Đầu Bò đóng cửa; ông Stavro mất 6 năm sau đó, hưởng thọ 78 tuổi.
Cộng đồng người Ý và Phố Ý

Toronto có hai Phố Ý, một nằm trên đường College Street giữa Grace Street và Palmerston Avenue có tên gọi là Little Italy và một nằm trên đường St. Clair Avenue West giữa Oakwood Avenue và Lansdowne Avenue mang tên Corso Italia.

Từ đầu thế kỷ thứ 20, một đợt di dân ồ ạt gồm hàng nhiều trăm ngàn người Ý đến định cư ở Canada, phần lớn tập trung ở hai thành phố Montréal và Toronto. Đợt đi dân thứ nhì xảy ra sau khi Thế Chiến thứ hai chấm dứt khi nước Ý còn nghèo khó và Canada là vùng đất cơ hội đầy quyến rũ. Đến thập niên 1960, nước Ý vươn mình trở thành một quốc gia có nền kinh tế thịnh vượng, ít có công dân Ý nào thích di dân sang Canada nữa.

Thống kê năm 2006 cho thấy Toronto có 467,000 cư dân gốc Ý trong tổng số gần 1.5 triệu người Canada gốc Ý trên toàn cõi Canada.
Little Italy ngày nay thu hút nhiều cơ sở thương mại của cư dân thuộc cả nhiều sắc tộc khác như Bồ đào nha, và Mỹ La Tinh. Trung tâm điểm của Little Italy Toronto là ngã tư College Street và Grace Street và lan dần đến ngã tư Dufferin-Bathurst. Chu vi giới hạn của Little Italy không thể xác định một cách rõ ràng vì dân cư không ngừng thay đổi nơi cư trú.
Corso Italia, Italy Course theo Anh ngữ, là một Phố Ý khác trong thành phố Toronto. Cũng giống như Little Italy trên đường College, Corso Italia dần dần lôi cuốn nhiều sắc dân khác tới làm ăn buôn bán, nhiều nhất là người gốc Bồ đào nha và Mỹ LaTinh.
Những gia đình cư dân gốc Ý đã ổn định cuộc sống và trở nên khá giả đã dời lên khu vực Woodbridge của thành phố Vaughan trù phú, chiếm gần phân nửa tổng số dân cư của khu vực nầy. Phố Ý Woodbridge nằm trên đường Woodbridge Avenue khoảng giữa hai đường Islington và Kipling và phía bắc của xa lộ HWY 7. Woodbridge là nơi thường xảy ra các cuộc đua xe hơi lén lút về đêm của đám thanh niên trẻ.
Một nhân vật nổi tiếng gắn liền với cộng đồng người Canada gốc Ý ở Toronto là Johnny Lombardi, người sáng lập ra đài phát thanh truyền hình đa văn hóa đầu tiên ở Canada là đài CHIN năm 1966 với chương trình bằng 32 ngôn ngữ khác nhau. Trong số các diễn biến mang tính cách đa văn hóa đài CHIN tổ chức hàng năm, CHIN Picnic là đáng chú ý hơn cả. Đây là cuộc thi áo tắm bikini diễn ra ở Exhibition Place dịp hè mỗi năm kéo dài cả tuần lễ tổ chức lần đầu tiên năm 1967 cho đến nay.
Johnny Lombardi là con của một cặp vợ chồng di dân Ý, chào đời ở Little Italy năm 1915, gia nhập quân đội Canada trong đệ nhị thế chiến, mở một siêu thị tại địa chỉ 637 College Street sau khi giải ngũ, trở thành ông bầu tổ chức các buổi hòa nhạc và các cuộc tranh tài thể thao rồi đi vào lãnh vực truyền thanh cho đến khi chết năm 2002.
Một di dân gốc Ý thành đạt ở Toronto là Michael Colle, từng giữ chức vụ Bộ Trưởng Di Trú và Công Dân Vụ của tỉnh bang Ontario. Ông sinh năm 1945 ở Ý, theo gia đình đến Toronto định cư từ nhỏ, từng giữ các chức vụ giáo viên môn sử trường St. Michael’s College School Toronto, hội viên hội đồng thành phố, chủ tịch TTC, đắc cử dân biểu tỉnh bang năm 1995 và tái đắc cử trong 4 nhiệm kỳ liên tiếp.
Cộng đồng Ukrainian và Phố Bloor West Village
Phố này nằm trên đường Bloor giữa hai đường Runnymede và Jane, một khu phố ngăn nắp lịch sự mang dáng vẻ châu Âu, là nơi qui tụ của cộng đồng người gốc Ukrainian, Ba Lan và các nước Đông Âu.
Người Ukrainian có mặt ở Toronto từ đầu thế kỷ thứ 19 khi Cuộc chiến tranh 1812 giữa Mỹ và Đế quốc Anh xảy ra. Đó là những người lính đánh thuê trong hai tiểu đoàn Meuron và Matterville của quân đội Anh. Sau chiến tranh, những người này được cấp đất đai vùng Perth, Ontario và Winnipeg, Manitoba. Tuy nhiên, phải đợi đến cuối thế kỷ đó, người di dân Ukrainian mới đến Canada đông đảo. Trong hai thập niên trước khi thế chiến thứ nhất xảy ra, 180,000 người Ukrainian di cư sang Canada, phần lớn đi định cư ở các tỉnh bang bình nguyên, phần còn lại chọn Ontario. Đợt di dân thứ nhì sau thế chiến thứ hai của người Ukrainian đến Canada gồm khoảng 40,000 người; ba phần tư chọn Ontario.
Tại Toronto, sự có mặt của người Ukrainian thể hiện qua các nhà thờ, hàng quán, các diễn biến văn hóa và các viện di sản, hiệp hội và trung tâm cộng đồng. Học viện St. Vladimir Institute tại địa chỉ 620 Spadina Avenue được thành lập năm 1969 có một thư viện gồm hơn 15,000 sách văn chương, ngôn ngữ và lịch sử Ukrainia, là nơi gặp gỡ học tập và sinh hoạt để duy trì bản sắc dân tộc. Viện bảo tàng Shevchenko tại địa chỉ 1614 Bloor Street West là viện bảo tàng Ukrainian duy nhất ở châu Mỹ, là nơi trưng bày một số cổ vật và tác phẩm nghệ thuật, phòng trưng bày tranh ảnh, tác phẩm và kỷ vật của Taras Shevchenko, một khuôn mặt có ảnh hưởng rất lớn trong nền văn chương và nghệ thuật Ukrain và thế giới.
Lễ hội Toronto Ukrainian Festival được tổ chức hàng năm ở Bloor West Village kể từ 13 năm nay; số người tham dự lên đến 300,000. Cuộc diển hành hàng năm có cả sự tham dự của các đoàn vũ Ukrainian và của các sắc dân khác như Slovak, Ái nhĩ lan và thổ dân da đỏ Canada.

Một số người Canada gốc Ukraine nổi tiếng là cầu thủ huyền thoại hockey Wayne Gretzky, bác sĩ phi hành gia Roberta Bonda, cựu Thủ hiến Ontario Ernie Eves, cựu Thủ hiến Manitoba Gary Filmon, cựu Toàn quyền Ramon Hnatyshyn, cựu Thủ hiến Saskatchewan Roy Romanov.

Cộng đồng người Do Thái và Phố Do Thái Toronto

Trước thế kỷ thứ 20, số người di dân Do Thái có mặt ở Toronto không đáng kể; phần lớn đều nghèo khó và buôn bán da thú, đồ cũ, vật liệu phế thải tập trung ở khu đường Spadina Avenue và Simcoe St. Vào năm 1871 Toronto chỉ có 157 cư dân gốc Do Thái. Qua năm 1891, con số này lên thành 1,425, năm 1901 là 3,090 người, 1911: 18,237 người, 1921: 34,619 người, năm 1941: 49,046, 1951: 66,773. Sự phát triển mạnh về kinh tế trong thập niên 1960 công thêm với phong trào Québec đòi ly khai đã khiến cho nhiều người Do Thái ở Montréal dời đến Toronto. Năm 1971, dân số Do Thái ở Toronto là 105,000 người, năm 1981: 128,650 người, 1991: 162,605 người. Năm 1976, khi đảng Quebecquois thắng cuộc bầu cử tỉnh bang, có từ 20,000 tới 30,000 người Do Thái dời về Toronto. Toronto trở thành thành phố có nhiều cư dân gốc Do Thái nhất Canada.

Đến nay có gần 180,000 người gốc Do Thái cư ngụ trong vùng Đại dô thị Toronto với một phần ba là người di dân và hai phần ba sinh ra ở đây, 114,000 sống trong thành phố Toronto và phần còn lại sống rải rác ở ngoại ô. Kensington Market ngày nay vẫn còn được người Việt chúng ta quen gọi là Chợ Do Thái vì thật ra đó là khu vực mua bán của di dân gốc Do Thái ngày trước.

Khu vực bao bọc bởi các đường Finch, Bayview, Steeles và Bathurst có mật độ dân cư gốc Do Thái cao nhất Toronto, chiếm 52% trên tổng số dân cư. Thứ nhì là khu Thornhill (Vaughan) với 50.7%. Người gốc Do Thái thuộc giới trẻ có khuynh hướng rời khỏi trung tâm thành phố để ra sống ở vùng ngoại ô hoặc thành phố lân cận phía bắc. Đa số người già ở lại trong khu Phố Do Thái Bathurst. Mức tuổi trung bình của cư dân gốc Do Thái trong khu vực nầy là 54 tuổi.

Người Canada gốc Do Thái thành công vượt trội trong các lãnh vực chính trị, hàn lâm, khoa học, ngân hàng, văn chương, tư pháp, kinh doanh. Riêng thành phố Toronto có nhiều khuôn mặt Do Thái nổi tiếng. Mel Lastman từng là một đứa trẻ rao bán trái cây ở Kensington Market, lớn lên mở tiệm bán bàn ghế giường tủ Bad Boy Furniture, sau đắc cử chức vụ thị trưởng North York, thị trưởng đô thị sáp nhập Toronto trong nhiều nhiệm kỳ liên tiếp. Một cư dân Toronto gốc Do Thái khác nữa được mọi người biết đến là Ed Mirvish, chủ nhân của tiệm bách hóa bình dân Honest Ed trên đường Bloor góc Bathurst. Ông được ban tặng huy chương cao quý Order of Canada do công đức và việc làm từ thiện.
Nếu bạn vào bất cứ quán McDonald’s nào ở Canada để mua một bữa ăn với món hamberger tức là bạn đang làm giàu thêm cho George Cohon, người sáng lập ra công ty McDonald’s ở Canada và ở Nga Sô. Ông vào quốc tịch Canada năm 1975. Qua năm 2000, ông được ban tặng Order of Canada. Nếu bạn có được một danh thiếp của ông ta, bạn có thể đem tới bất cứ tiệm McDonald’s nào ở Canada hoặc ở Nga Sô để đổi lấy một cái Big Mac ăn chơi.
Còn nếu bạn đi mua sắm ở tiệm Shoppers Drug Mart thì bạn sẽ làm giàu cho một ông Do Thái khác là Murray Koffler. Ông này cũng giàu quá cỡ, cũng làm từ thiện xã hội, cũng đóng góp và tài trợ cho bệnh viện, nên cũng được ban tặng Order of Canada năm 1992. Bạn mở đài CityTV để xem tin tức thì đó cũng thuộc một người gốc Do Thái ở Toronto làm chủ là Moses Znaimer. Danh sách còn dài lắm, không thể nào kể hết ở đây.

Cộng đồng Triều tiên và Phố Hàn
Chúng ta để ý thấy ở Toronto có khá nhiều nhà thờ Presbyterian thuộc Giáo hội Thống Nhất của đạo Tin Lành có bảng đề bằng chữ Đại Hàn vì thật ra những người di dân Triều Tiên đầu tiên đến Toronto đều là vì lý do tôn giáo. Vào năm 1948, một phái bộ truyền giáo Canada bảo trợ một chủng sinh người Triều Tiên tên Tae-yon Whang đến Toronto thực tập y khoa. Nhiều chủng sinh Triều Tiên khác lần lượt tới Toronto sau đó. Trong khoảng thời gian hai mươi năm liên tiếp đó, ngoài thành phần truyền giáo này và những thân nhân do họ bảo lãnh, hầu như rất ít người di dân Triều Tiên nào khác đến đây vì những nguyên nhân khác. Từ những năm cuối của thập niên 1960 trở về sau, người Triều Tiên thuộc mọi thành phần khác mới đổ xô di dân đến Toronto. Bác sĩ Tae-yon Whang hiện vẫn còn làm việc tại phòng mạch của ông ở Rosedale mãi cho đến những năm gần đây và được người đồng hương xem như là cha đẻ của cộng đồng họ tại Toronto.
Theo tài liệu của Bộ Di Trú Canada, phần lớn dân số Triều Tiên ở Canada đều là di dân từ nước ngoài vào. Vào năm 2001, con số này là 70%, và đa số họ đến Canada chỉ trong thời gian mười năm gần đây thôi. Thật vậy, trong tổng số di dân Triều Tiên ở Toronto, 4% đến đây trước năm 1971, 17% đến đây trong thập niên 1970, 19% đến trong thập niên 1980, và 60% trong thập niên 1990.
Chính sách di dân cởi mở hơn của Canada năm 1967 đưa đến một làn sóng di dân đông đảo đến Tornto. Tới năm 2001 đã có 50,000 người gốc Triều Tiên ở Toronto, phần lớn cư ngụ quanh khu vực Bloor và Bathurst, biến một đoạn đường Bloor giữa Bathurst và Christie thành Phố Hàn với trung tâm điểm là ngã tư Bloor-Manning. Tiệm tạp hóa, nhà hàng ăn, võ đường thái cực đạo, quán karaoke, tiệm bánh, tiệm bán kỷ vật, đại lý xuất nhập cảng, hãng địa ốc, hãng bảo hiểm, hãng không du lịch lần lượt mọc lên. Khi đội túc cầu Đại Hàn tranh tài World Cup năm 2002 và 2010 thắng một trận, không khí Phố Hàn Toronto sôi động hẳn lên.
Từ năm 1990 trở đi, một Phố Hàn khác mọc lên trên đường Yonge ở khoảng giữa Sheppard và Steeles, thuộc khu vực Willowdale, thu hút giới trẻ thuộc thế hệ sau với lợi tức cao hơn nên phố này cũng sinh động hơn. Phần lớn sinh viên Đại Hàn du học Canada cư ngụ trong khu này. Ngày nay, người Canada gốc Triều Tiên ở Toronto tương đối khá giả làm những nghề như thương gia, thợ chuyên nghiệp, người làm nghề chuyên môn như giáo sư, kỹ sư, bác sĩ, v.v.

Một trong những công dân Canada gốc Triều Tiên nổi tiếng nhất là nữ diễn viên truyền hình và điện ảnh Sandra Oh. Tuy không đẹp nhưng với tài diễn xuất tuyệt vời, Sandra Oh được mời thủ diễn rất nhiều vai trò nổi bậc trong các chương trình truyền hình và điện ảnh của Canada lẫn Hoa Kỳ. Với cha mẹ là di dân đến Canada trong thập niên 1960, Sandra sinh ra ở Nepean, Ontario năm 1971, theo học và tốt nghiệp ngành kịch nghệ năm 1993. Sandra Oh được trao giải Genie Awards của Canada (tương tự như giải Oscar của Mỹ), một lần đoạt giải Quả Cầu Vàng (Golden Globe Awards), và một số các giải thưởng quốc tế khác. Cô hiện đóng vai bác sĩ Cristina Yang trong chương trình truyền hình Grey’s Anatomy từ năm 2005 cho đến nay.
Một nhân vật người Triều Tiên nổi tiếng khác ở Toronto là Hwang In Shik, đệ nhất võ sư hiệp khí đạo, người đã từng huấn luyện cho tài tử võ thuật Hồng Kông như Bruce Lee, Jackie Chan và Angela Mao. Ông là võ sư thượng thừa được Hiệp Hội Hiệp Khí Đạo Thế Giới vinh danh và ban tặng đai đen đẳng10 là đẳng cao nhất. Ông di dân sang Toronto năm 1976 và hiện đang điều hành một võ đường trong khu Phố Hy Lạp đường Danforth.

Robert Wong là một khuôn mặt chính trị gốc Hoa khác. Ông là dân biểu quốc hội tỉnh bang từ 1987 đến 1990 với chức vụ Bộ trưởng Bộ Năng lượng, Bộ trưởng Công Dân Vụ trong nội các của thủ hiến David Peterson. Trước đó ông là phụ tá đặc biệt của Bộ Y tế Xã hội từ năm 1968 đến 1970, cố vấn đặc biệt Bộ Văn hóa Đa diện năm 1972 cùng nhiều chức vụ dân sự khác như chủ tịch của CAA, Chủ tịch Ủy ban Công vụ và Chính phủ.

Michael Chan cũng di dân đến Toronto cùng thời với đợt người Việt tị nạn đầu tiên vào năm 1975. Chan một mình rời Hồng Kông khi 18 tuổi, đi bán bảo hiểm. Giữa thập niên 1980, Chan tham gia sinh hoạt chính trị Đảng Tự Do để rồi trở thành một dân biểu tỉnh bang gốc Hoa khác, đắc cử năm 2003, lần lượt giữ các chức vụ Bộ trưởng Thuế Vụ, Bộ trưởng Di trú và Công dân, Bộ trưởng Du lịch và Văn hóa, trong nội các Dalton McGuinty.

Kết luận

Thật tình ra mà nói, tất cả cư dân Canada nếu không phải là di dân thì cũng là con cháu của di dân từ nơi khác đến đây lập nghiệp và xây dựng lên xứ sở đẹp xinh này. Xác định điều đó để biết rằng Toronto còn có rất nhiều cộng đồng sắc dân khác nữa. Có những sắc dân hầu như đã hoàn toàn hòa trộn vào dòng chính, nhất là người da trắng. Nếu ngôn ngữ mẹ đẻ của họ là Anh ngữ thì sự hòa nhập càng nhanh chóng hơn. Người di dân Đức hay Hòa Lan, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, các nước Bắc Âu, Đông Âu, Nga, v.v. tuy khác ngôn ngữ nhưng tương đối cũng hòa nhập dễ dàng. Người Nam Ấn và người thuộc các nước cựu thuộc địa Anh cho dù là thành phần thiểu số hiển nhiên nhưng đã từng hấp thụ một nền giáo dục bằng Anh ngữ nên đỡ gặp trở ngại.

Bất chấp tình trạng kinh tế trì trệ, Canada nói chung và Toronto nói riêng mãi vẫn là nơi định cư mơ ước của di dân từ nhiều quốc gia trên thế giới. Hàng năm Canada vẫn thu hút hơn 250,000 di dân, đa số từ các quốc gia Á châu như Trung Hoa, Tích Lan, Phi luật tân, Ấn Độ, v.v., một phần ba trong số này chọn Toronto làm nơi định cư.

Người di dân mới đóng một vai trò quan trọng cho thành phố và Canada về kinh tế và văn hóa, cung cấp nhân lực và tài năng rất cần thiết cho sự phát triển để bù đắp mức sinh sản tương đối thấp của dân chúng Canada. Toronto thu hút di dân hơn cả vì nơi đây đã sẵn có những cộng đồng di dân đi trước. Không có người di dân mới nào đến đây mà cảm thấy bị lạc lõng. Họ sẽ được các cơ quan công cộng và hội đoàn đồng hương hướng dẫn và trợ giúp để hội nhập. Nguồn tài nguyên cung cấp các dịch vụ di dân rất dồi dào trên mọi phương diện.
Người di dân còn làm cho văn hóa Canada và Toronto trở nên phong phú và sống động như một bức thảm dệt muôn màu. Tất cả mọi người sống hòa thuận cùng góp một bàn tay tiếp tục xây dựng và duy trì một quốc gia thường được coi là tốt đẹp và an bình nhất trên thế giới.

Phan Hạnh Toronto.

Immigration to Toronto has helped define the city and make it a more interesting place to live and visit. Toronto has set it apart from other world cities because it brings with it diversity of race, religion and lifestyle. Toronto Canada’s immigrants are, in fact, what makes Toronto a special place on the world stage.

Advertisements

Thư Người Lính Trẻ Tháng Bảy 10, 2017

Posted by phanhanh in Uncategorized.
add a comment

Thư Người Lính Trẻ
HỒI ỨC CHIẾN TRANH VIỆT NAM CỦA MỘT QUÂN NHÂN HOA KỲ

Phan Hạnh

Phần 1: Giới thiệu

Chúng ta thường đôi chút tự hào nghĩ rằng người Á Đông chúng ta sống nặng về tình cảm gia đình và trọng sự hiếu thảo đối với cha mẹ khi so sánh với nếp sống Tây phương vốn xem trọng tính tự lập và tự do cá nhân. Nhiều thế hệ chung sống dưới cùng một mái nhà đáng cho chúng ta xem là một niềm hạnh phúc. Con cái xa rời mái gia đình sớm có thể bị gièm pha. Nếu đứa con đó ít biên thư về thăm hỏi cha mẹ lại càng đáng trách hơn nữa.

Trong bài viết Linh Hồn Việt Cộng, chúng tôi đã kể cùng quí độc giả câu chuyện về một sĩ quan Hoa kỳ tên Homer Steedly Jr. phục vụ chiến trường Việt Nam trong những năm 1968-1970. Ba mươi chín năm sau, anh đã trở qua Việt Nam để đến chiến trường xưa giúp tìm hài cốt một cán binh y tá Việt Cộng tên Hoàng Ngọc Ðảm bị anh bắn chết. Khi hài cốt đó được tìm thấy rồi, anh còn dự lễ cải táng người cán binh Việt Cộng đó và nói lời tạ lỗi với thân nhân.

Trong lúc đào sâu quá khứ của anh Homer để có đủ chứng liệu cho bài viết trên, chúng tôi ngạc nhiên khám phá ra rằng anh là một người con vô cùng nặng lòng thương yêu và gần gũi với cha mẹ. Nếu chỉ “viết thư cho người yêu trên ba lô nặng trĩu” thì đó là chuyện thường và đã được đưa vào rất nhiều trong thơ và nhạc bởi các tác giả như Vũ Hữu Định, Kim Tuấn, Trần Kiêu Bạc, v.v. Nhưng trường hợp của trung úy Homer Steedly Jr., anh chỉ có cha mẹ, 3 đứa em và chưa có người yêu.

Thời gian kể từ ngày rời khỏi mái nhà thân yêu của cha mẹ ở một làng quê để lên đường trình diện nhập ngũ và vào quân trường thụ huấn rồi sang Việt Nam cho đến ngày anh mãn hạn phục vụ chiến trường Việt Nam trở về quê nhà là 3 năm 5 tháng. Trong khoảng thời gian xa nhà đó, anh viết ngót một trăm bức thư cho cha mẹ (vì anh chưa có người yêu). Tính trung bình, cứ mỗi mười hai ngày, anh viết một bức thư cho cha mẹ, không kể những trang nhật ký anh ghi chép và còn lưu giữ.

Anh nhập ngũ ngày 04 tháng Mười 1966. Thời gian phục vụ chiến trường Việt Nam: từ ngày 18 tháng Tám 1968 đến ngày 14 tháng Ba 1970.

Anh sinh năm 1946 nơi một làng quê thuộc tiểu bang South Carolina, tình nguyện đầu quân năm 1966 và được gửi đi phục vụ chiến trường Việt Nam trong thời gian những năm 1968, 69, 70, lần lượt giữ các chức vụ trung úy trung đội trưởng, sĩ quan thường vụ đại đội và đại úy đại đội trưởng thuộc Sư Ðoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ. Ðơn vị anh hoạt động hành quân chiến đấu ở vùng rừng núi thuộc hai tỉnh Kontum và Pleiku của cao nguyên trung phần Việt Nam gần đường mòn Hồ Chí Minh và biên giới Lào Việt. Mãn hạn phục vụ ở Việt Nam và trở về nước, anh lưu ngũ một thời gian làm việc tham mưu và giải ngũ năm 1975 sau 9 năm phục vụ quân đội với cấp bậc sau cùng là thiếu tá.

Trong đời sống dân sự, anh làm việc cho Trường Ðại Học South Carolina cho đến khi về hưu non ở tuổi 55 năm 2001 với chức vụ sau cùng là phụ tá giám đốc Trung Tâm Kỹ Thuật Thông Tin và Ðiện Toán của phân khoa Mỹ Thuật Tự Do. Homer kết hôn trễ với Elizabeth Little Dozier trong Ngày Tình Nhân (Valentine’s Day), 1995. Họ không có con.

Sau khi nghỉ hưu non, anh có dịp soạn và đọc lại chồng thư cũ và những trang nhật ký để từ đó đưa lên trang mạng của riêng anh cho mọi người cùng thưởng thức. Nếu không nhờ những bức thư mà cha mẹ anh trân quí gìn giữ cẩn thận, chắc chắn anh không thể nào ghi lại đầy đủ chi tiết chỉ nhờ dựa vào trí nhớ của mình. Những bức thư xưa đó là kho tàng tình cảm giá trị cho anh mà tiền bạc không mua được.

Những bức thư và những dòng nhật ký của anh cho thấy anh là một người thực tế và không mơ mộng. Ở đó không tìm thấy những ý tưởng và cảm xúc khách sáo điệu bộ hay những câu viết văn chương bóng bẩy mượt mà làm dáng. Ở đó chỉ có sự chân thành mộc mạc của một đứa con của làng quê và một tấm lòng nhân hậu. Anh ra chiến trận nhưng không mang theo lòng hận thù, không thú tính khát máu, không đi tìm cảm giác lạ và cũng chẳng muốn làm một người hùng. Anh cũng không giành lấy chính nghĩa cho mình và khinh rẻ hay phê phán phe địch. Đối với anh, chiến sĩ ở mọi phe đều đáng kính trọng vì họ phục vụ cho lý tưởng của riêng họ.

Có những lúc ngắn ngủi, anh tột độ sợ hãi, anh thẳng thắn nhìn nhận như thế chứ không tìm cách lấp liếm. Sự hèn nhát theo bản năng con người chỉ xảy ra nhất thời để rồi khi bình tâm lại, anh chỉ muốn làm tròn bổn phận của một quân nhân, một cấp chỉ huy đứng đắn phục vụ quân ngũ và tiến thân bằng chính khả năng đích thực của mình. Dù đối với thượng cấp hay với binh sĩ dưới quyền, dù đối với tù binh hay đối với những người phản chiến, trước sau anh tỏ ra là một người cân bằng lý trí và hành xử một cách đáng kính trọng.

Sau đây là câu chuyện của Homer R. Steedly Jr., từ nguyên nhân nào đưa anh đầu quân nhập ngũ cho đến kinh nghiệm phục vụ chiến trường Việt Nam qua hàng trăm bức thư anh gửi cho cha mẹ anh kể từ ngày đầu vào quân trường cho đến khi mãn hạn phục vụ trở về quê nhà. Viết một trăm bức thư cho cha mẹ trong thời gian hơn ba năm, điều đó cho thấy anh rất quí trọng cha mẹ anh, chứng tỏ anh là một đứa con hiếu thảo luôn nghĩ đến cha mẹ. Xin nhường lời lại cho Homer R. Steedly Jr.

Phần 2: Những ngày tháng nơi thao trường

Ngày 30 tháng Chín, 1966.

Một ngày Thứ Sáu. Tôi hay tin tôi bị thiếu điểm hầu hết các môn học tại Trường Ðại Học Clemson và tôi sẽ bị học lại trong tam cá nguyệt tới. Tôi đã đoán trước được điều này vì từ tam cá nguyệt trước, sau một năm trời hết mức cố gắng học, tôi biết là trường Trung Học Bamburg vùng quê tôi đã không cung cấp cho tôi đầy đủ trình độ kiến thức để cạnh tranh với những sinh viên khác ở Clemson.

Tôi chọn môn hình học cổ điển và toán đại số ở trung học. Tất cả những bạn sinh viên khác ở Clemson của tôi đều có học thêm suốt hai học trình hai môn lượng giác và toán tích phân. Ở trung học, tôi được xem là tay cừ khôi về khoa học, nhưng khi tôi lấy cua hóa học đầu tiên ở Clemson, tôi hoàn toàn bị hụt hẫng. tôi được dạy vòng hành tinh Bohr giải thích nguyên tử, với các phân tử protons, trung hòa tử, và điện tử.

Tôi chưa hề nghe qua những vận hành lượng tử, vi lượng, neutrinos, hoặc hạt vật lý. Bạn học cùng lớp của tôi đều hiểu những khái niệm như thế và từ đó tiến lên.
Cha mẹ tôi phải gồng lo cho tôi qua hết năm thứ nhất và tôi trú ngụ ở nhà dì Hattie để tiết kiệm đỡ tiền thuê phòng; do đó tôi không muốn phí phạm thêm tiền bạc của cha mẹ để rồi thi rớt.

Coi như tôi bỏ luôn tam cá nguyệt cuối, hiếm khi vào lớp mà chỉ vào thư viện đọc lại sách giáo khoa trung học hầu mong lấy lại những phần học hành thiếu sót của tôi. Tôi bắt gặp trong văn khố dưới tầng hầm của thư viện vài bộ tạp chí khoa học cũ mà tôi khoái. Mỗi ngày sau bữa ăn chiều, tôi quay trở lại thư viện và đọc những quyển Science Digest và Scientific American cũ. Tôi cũng dành một phần thì giờ của những buổi tối đó để đọc hồ sơ các phiên xử Tội Ác Chiến Tranh Nuremburg.
Tôi đến Văn Phòng Ghi Danh để làm thủ tục rời khỏi trường.

Ngày Một tháng Mười, 1966.

Tôi dậy sớm rồi ra đường quá giang xe để về quê nhà. Tôi dừng lại nơi trạm bưu điện và thấy một nhân viên tuyển mộ ở đấy. Ông ta đinh ninh coi như tôi đi đăng lính và tới trình diện để đi học khóa huấn luyện đặc biệt. Ông ta cũng nói vì tôi chưa đủ 21 tuổi nên tôi cần có chữ ký ưng thuận của cha mẹ. Tô đem đơn về nhà, chờ sau bữa cơm chiều, tôi mới báo tin cho cha mẹ tôi biết.

Khi tôi nói ý định của tôi đăng lính và sẽ học tiếp trong khi thi hành quân dịch và sẽ được học đại học miễn phí sau khi giải ngũ, cha tôi nổi giận, nhất định một mực bảo ông sẽ không ký giấy ưng thuận cho tôi. Sau một lúc to tiếng cãi nhau, chúng tôi tránh mặt và đi ngủ.

Ngày 2 tháng Mười, 1966.

Sáng hôm sau thức dậy, tôi ngạc nhiên hết sức khi cha đến ngồi bên tôi và ôn tồn hỏi tôi đã dứt khoát với ý định đăng lính hay chưa. Tôi đáp tôi đã quyết định và giải thích cho ông nghe lý do tại sao. Ông nói ông nghĩ là tôi quyết định sai nhưng ông nói nếu tôi đã quyết định thì ông ký giấy ưng thuận cho tôi. Bây giờ tôi mới nhận thức rằng phản ứng của cha như thế cũng là điều tự nhiên thôi vì ký ức chiến trận của chính ông và vì ông biết chắc thế nào tôi cũng sẽ bị gửi qua chiến trường Việt Nam. Tôi cầu mong không phải tác chiến mà chỉ phục vụ đơn vị yểm trợ tiếp vận mà thôi.

Ngày 3 tháng Mười, 1966.

Tôi ghi danh đầu quân tại Bưu xá làng nhà Bamberg sáng sớm ngày Thứ Hai. Nhân viên tuyển mộ bảo tôi ngày hôm sau đi trình diện ở đồn binh Ft. Jackson trong thủ phủ Columbia của tiểu bang South Carolina. Ông trao cho tôi một vé xe buýt đi Columbia và bảo tôi rằng tại trạm xe buýt ở đấy sẽ có một chiếc buýt quân xa đón chúng tôi đi về binh trại Ft. Jackson.

Ngày 4 tháng Mười, 1966.

Thủ tục đầu quân bắt đầu bằng cuộc khám sức khỏe tổng quát. Tất cả chúng tôi được lệnh trút bỏ hết y phục đang mặc trên người và đứng xếp hàng tồng ngồng dọc hai bên lối đi ngoài hành lang. Hai bác sĩ quân y lần lượt đi ngang qua từng đứa chúng tôi hỏi các câu hỏi vừa khám qua loa. Tiếp đó chúng tôi mới được đưa vào một phòng chờ rộng lớn và từng đứa được gọi lên để được khám kỹ lưỡng hơn. Khi đến lượt tôi, một bác sĩ cân tôi và bảo tôi cân nặng chỉ có 94 cân Anh, có nghĩa là tôi thiếu kí và không đủ tiêu chuẩn đầu quân. Tôi phản đối, nhưng ông cứ bảo tôi mặc quần áo vào rồi ra bàn tiếp tân bên ngoài để nhận vé xe buýt trở về quê.

Tôi rời doanh trại với cõi lòng buồn vô hạn. Thế rồi tôi nảy ra ý kiến là cứ nhập vào đám thanh niên mới vào để thử vận may một lần nữa. Trước tiên, tôi đến bên vòi nước phông tên uống nước ừng ực cho thật đầy bụng đến nỗi tôi tưởng tôi có thể ngả lăn ra chết vì bội ẩm. Lần này tôi hy vọng tôi sẽ vừa đủ trọng lượng tối thiểu. Thật là trời xui đất khiến, tôi lại tới nhằm ngay ông bác sĩ đã khám tôi lúc ban sáng. Ông nhìn tôi rồi hỏi tôi trở lại đây làm cái gì. Tôi bảo tôi muốn thử lại cho chắc ăn. Ông cân tôi và bảo tôi vẫn còn thiếu 2 cân dưới mức trọng lượng tối thiểu. Nhưng ông nói vì tôi đã quyết tâm đi lính nên ông cho tôi đậu điểm cho rồi.

Ngày 10 tháng Sáu, 1966.

Tôi ở lại trại Ft. Jackson hơn một tuần lễ làm việc vặt, phần lớn là nhặt rác. Khi vị trung sĩ cán bộ hỏi có đứa nào trong chúng tôi biết bước chân theo nhịp hay không, tôi đưa tay lên vì lúc còn học ở trường Clemson tôi có học qua cách đi theo nhịp trong các dịp lễ lạc. Thế là vị trung sĩ cán bộ giao cho tôi nhiệm vụ chỉ dẫn đám tân binh đi trong hàng và theo nhịp, cho phép tôi dẫn toán đi chỗ này qua chỗ khác.

Tôi thi trắc nghiệm để theo học khóa sinh viên sĩ quan, nhưng bị thiếu hai điểm trong một phần của bài thi. Ông sĩ quan giám thị bảo tại tôi thành thật quá. Ông bày cách cho tôi trả lời các câu hỏi thế nào cho đúng và cho tôi thi lại. Lần này tôi đỗ giai đoạn một và sẽ được gửi qua giai đoạn hai của khóa đào tạo sĩ quan bộ binh.

Ngày 14 tháng Mười, 1966.

Bức thư đầu tiên.

Thưa Ba Mẹ,

Vậy là bây giờ con đã vào quân đội. Con đang được giao cho chức vụ tiểu đội trưởng khóa sinh mà con biết trước chắc chắn là thế nào con cũng được. Nhờ vậy trong trung đội 52 người con được miễn tạp dịch và chịu trách nhiệm chỉ huy 12 đứa khác.

Thứ Hai tuần sau con sẽ bắt đầu giai đoạn huấn luyện 8 tuần lễ căn bản dành cho tân binh. Vì là tiểu đội trưởng, có lẽ con sẽ được thăng cấp từ binh nhì lên binh nhất. Và khi qua giai đoạn huấn luyện hai, con sẽ lên cấp bậc hạ sĩ nhất. Sau một năm con sẽ nhập học khóa sĩ quan. Con sẽ trở thành thiếu úy, sẽ lãnh hai trăm đô một tháng, thay vì chín chục đô một tháng.
Con cảm thấy rất thích cuộc đời trong quân ngũ. Đối với con, nó còn dễ chịu hơn là đời sống dân sự, nhất là khi có cấp bậc và có đặc quyền, khỏi phải làm việc nặng nhọc.
Con xin tạm ngưng ở đây vì con còn phải tạm thế đứng canh cho một đứa trong tiểu đội con đang bị bệnh. Đỡ một cái là con không phải gác đêm. Con sẽ viết tiếp. Coi như trong vòng tám tuần lễ kế tiếp con sẽ không về nhà. Hy vọng sẽ về trong dịp lễ Giáng Sinh.
Con, Homer.

Ngày 23 tháng Mười, 1966.

Thưa Ba Mẹ,

Con vẫn bình yên tại trung tâm huấn luyện Ft. Gordon này. Con được giữ chức tiểu đội trưởng (trung sĩ) trong trung đội 54 người nên con cũng lấy làm rất hãnh diện. Tụi con chỉ là quyền trung sĩ thôi chứ không phải là trung sĩ thực thụ, nhưng nếu không có ai thay thế trong giai đoạn huấn luyện này thì tụi con sẽ tự động được thăng cấp từ binh nhất lên hạ sĩ, và sẽ có cơ hội thăng cấp nữa trong giai đoạn huấn luyện kế tiếp. Từ binh nhất lên hạ sĩ chỉ thêm được có 10 đô mỗi tháng, nhưng con có thể sẽ được thăng hạ sĩ nhất và sẽ lãnh thêm được 30 đô mỗi tháng hơn những đứa khác trong trung đội con.

Khi xong khóa huấn luyện cấp cao hơn, con sẽ vào trường sinh viên sĩ quan và những kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy hiện nay của con sẽ giúp cho con rất nhiều. Xon khóa sinh viên sĩ quan, con sẽ trở thành thiếu úy với tiền lương cao hơn nhiều và công việc làm sẽ tốt hơn.

Coi như từ lúc vào quân trường đến giờ, con cảm thấy rất thích hợp với bổn phận và trách nhiệm.Công việc cũng chẳng có gì là khó khăn, miễn là mình chú tâm làm đúng theo lệnh trên. Với cương vị chỉ huy mới, con bằng lòng với sự thử thách của trách nhiệm mà những người khác không có. Căn bản là không có gì khó quá sức; thật ra con bị hành khổ lúc học chống du kích hơn là ở đây nhiều. Nếu mình chịu chăm chú để ý lời giảng và làm đúng theo mệnh lệnh thì mọi chuyện đều suông sẻ. Con khá khỏe khoắng và nhàn nhã với quyền trung sĩ vì con khỏi phải làm tạp dịch. Nhưng mặt khác con có nhiều trách nhiệm hơn mà con lại khoái thử thách. Con chỉ huy 12 đứa, cũng oai lắm, có quyền sai họ làm tạp dịch, phạt họ hít đất khi họ phạm lỗi, phân chia ca canh gác đêm. Được cái họ đều là người tốt biết nghe lời và tôn trọng con. Trung sĩ trung đội trưởng khóa sinh của trung đội con hơi hắc ám cho nên 12 tên khóa sinh dưới quyền con nghe lời con hơn là nghe lời hắn. Con nghĩ rồi hắn sẽ bị một trung sĩ thứ thiệt thay thế.

Con mong là bức thư trước của con không quá cộc lốc vì con chỉ có vài giây phút ngắn ngủi để viết và không biết sau đó có rảnh rang để viết nữa hay không. Con khá bận rộn với chức vụ tiểu đội trưởng. Con ước gì ba mẹ có thể đến đây thăm con vào ngày Chủ Nhật nào đó, nếu có thể được Chủ Nhật tới thì càng tốt. Nếu đi được, ba mẹ hãy cho con hay và nhớ mang theo cho con thức ăn thứ thiệt và một bình nước trà. Khi tới cổng quân trường, ba mẹ chỉ cần nói tên con là binh nhì Homer R. Steedly, ĐĐ D (Đại Đội Bốn), Tiểu Đoàn 15, Trung Đoàn Khóa Sinh 1, Trung Đội 4, rồi họ sẽ đưa cho ba mẹ một tờ bản đồ chỉ đường vào đây. Xin ba mẹ gởi tiền cho con càng sớm càng tốt vì con cần thêm quân phục và vật dụng. Đáng lẽ giờ nầy là giờ mọi người phải ngủ rồi nhưng đứa canh gác đêm của tiểu đội con tốt bụng cho con vào ngồi trong cầu tiêu để viết. Con phải ngưng đây vì nếu bị bắt gặp, cả hai đứa nó và con sẽ gặp rắc rối.

Con, Homer.

Thứ Hai, ngày 9 tháng Giêng, 1967.
Homer R. Steedly
ĐĐ. B/1, Trung Đội 3
Ft. Lewis, Washington 984333

Thưa ba mẹ, bà, bạn bè của gia đình, Tony, Nancy và Linda, v.v.,

Con vừa xong tuần lễ đầu của tám tuần khóa huấn luyện bổ túc cá nhân. Con tất thích thú vì có rất nhiều điều thực sự đáng học hỏi, nhiều buổi tập luyện thể lực thật gian nan, nhiều bắt bẻ hành hạ của cấp trên tập cho con tánh chịu đựng tốt, ngủ rất ít, hầu như lúc nào cũng chạy thay vì đi, và ít có ngày nào nắng ráo.

Con sẽ báo cáo đầy đủ hoạt động từng ngày của con cho ba mẹ biết.

03:30 sáng. Con đang đứng trong hàng quân với áo giáp trên người đã sũng nước mưa nặng trĩu vì cơn mưa rả rít không dứt và cơn gió này làm cho nhiệt độ 45 độ F trở nên rất lạnh. Hầu hết bọn chúng con đứa nào cũng lạnh run; và vì những đám mây đen che phủ hết bầu trời sao, quang cảnh trở nên tối đen như mực; do đó khi chúng con cùng bước đều đi xuống nhà ăn, có đứa vấp phải những tảng đá lớn ven đường và té ngã lăn cù.

Sau khi con rời nhà ăn bước ra ngoài trời, cơn lạnh lại ập đến ngay. Từ 04:00 tới 05:30 sáng, tụi con làm tạp dịch bên trong doanh trại, đánh bóng sàn nhà, chùi nhà cầu, thu dọn giường ngủ, đánh bóng giày, lau chùi cửa sổ, lau sạch bụi bặm tất cả mọi chỗ không sót nơi nào.

05:30 sáng. Chúng con tập họp so hàng và chạy đến địa điểm huấn luyện thể lực chỉ cách doanh trại Đại Đội con “sơ sơ” có một dặm thôi! Tại đây chúng con phải trải qua 12 bài tập thể dục hằng ngày. Sau mười lăm phút nghỉ giải lao hút thuốc, tụi con lại mặc áo giáp vào người và chạy đến lớp học truyền tin cách đó khoảng nửa dặm. Chúng con học thuật ngữ truyền tin dùng trong liên lạc vô tuyến. Lớp học cũng lạnh chẳng khác gì bên ngoài. Sau đó chúng con ăn trưa ngay tại chỗ ngoài lớp học trong khi trời vẫn đổ mưa. Trời lạnh cóng cả tay. Đám thợ nấu nhà bếp nầy là dân tay mơ nấu ăn dở ẹt. Thức ăn nhão nhoét lạnh tanh.

Chúng con học xong lúc 04:30 chiều và phải thực tập nói chuyện qua máy liên lạc vô tuyến AN-PRC-6 trước khi ra về. Chuyến chạy về dài một dặm rưỡi trong quần áo ướt khá vất vả cho nhiều đứa. Nhưng may cho con là con không cảm thấy mệt nhọc trong khi chạy. Về tới doanh trại và tan hàng lúc 05:30 chiều. Suýt nữa con bị trễ khi tập họp đi ăn chiều vì con lo lau chùi đôi giày và lấy cà mèn. Con bị phạt 50 cái hít đất vì tội tập họp trễ cộng thêm 20 cái hít đất nữa về tội đứng lên mà chưa có lệnh cho phép. Ăn xong, chúng con phải lo phơi khô quần áo và dọn dẹp xong xuôi lúc 08:45 tối, được rảnh rang 45 phút cho tới 09:30 là giờ tắt đèn đi ngủ.

Con dùng 45 phút này để đọc qua Mười Một Điều Lệnh Tổng Quát mà con sẽ học trong ngày Thứ Bảy. Giấc ngủ đến với con thật nhanh sau đó. Con ngủ say sưa cho đến khi thằng bạn chung chiếc giường hai tầng đánh thức con dậy lúc 03:30 sáng hôm sau để đi làm công tác lính canh nhà bếp.

Con, Homer.

Ngày 10 tháng Giêng, 1967.

Nhật ký: Ăn sáng lúc 05:00, tạp dịch doanh trại tới 06:30, trở lại lớp học truyền tin học nguyên ngày đến 04:30 chiều. Trời vẫn còn mưa phùn lất phất và có sương mù. Vì thời tiết xuống 38 độ F và đang mưa, hôm đó chúng tôi được ăn trưa ngay trong lớp. Tôi học cách chuyển gởi tín hiệu và cách lắp đặt máy truyền tin AN-PRC-6 và máy AN-PRC-10 nặng hơn và mạnh hơn.

Nửa ngày còn lại cũng giống như ngày Thứ Hai, ngoại trừ chúng tôi phải sắp xếp lại dãy tủ đựng vật dụng cá nhân, lục đục cho tới mười giờ rưỡi đêm. Có đứa sắp xếp sai chỗ thế nào đó khiến chúng tôi bị lôi cổ dậy lúc ba giờ rưỡi sáng thay vì bốn giờ rưỡi; chúng tôi sẵn dịp dùng một tiếng đồng hồ đó để dọn sạch khu vực chung quanh doanh trại. Sau bữa ăn sáng, chúng tôi sắp hàng đi đều bước (thay vì như thường lệ phải chạy lúp xúp, vừa chạy vừa đếm bước một hai ba bốn), trên người mặc đồ chống mưa từ đầu đến chân (cũng khác hơn thông lệ) để tới chỗ xe buýt đậu. Chúng tôi lên xe và được chở đến lớp học địa bàn.

Chúng tôi ngồi trên băng ghế khán đài ướt lạnh giữa trời mưa suốt ba giờ đồng hồ không nghỉ để học cách tìm phương hướng diện địa bằng địa bàn từ trường. May quá, sau đó chúng tôi được dùng bữa ăn trưa nóng trong bốn mươi lăm phút lúc ông trời bỗng dưng ngưng mưa. Sau đó chúng tôi trở lại ngồi trên băng ghế ướt để học thêm một tiếng đồng hồ về cách đọc bản đồ. Nhưng vì nước mưa thấm vào người tôi gây khó chịu, tôi cảm thấy như thời gian dài bất tận.

Sau đó là buổi thực tập cách dùng địa bàn theo trục tọa độ. Chúng tôi đứng chung quanh một cọc gỗ và dùng địa bàn để xác định tọa độ và khoảng cách để đi tìm một cọc gỗ khác cách đó khoảng một cây số rưỡi. Tôi xác định đúng phương hướng cũng giống như đa số của nhóm. Thật ra bài thực hành này khá dễ là vì địa thế là một cánh đồng trống trải. Thế rồi chúng tôi được chia ra thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm ba đứa và được cấp cho một địa bàn. Tôi làm trưởng nhóm, giữ địa bàn và dữ kiện tọa độ của một đài tưởng niệm (chỉ là một tảng đá) cách đó hai dậm Anh. Chúng tôi phải đi tìm đến đài tưởng niệm đó. Tôi tưởng là tôi đi lạc hướng rồi chứ vì tảng đá thấp chũm không nhìn thấy. Rõ ràng chúng tôi chấm đúng tọa độ và dừng lại đúng khoảng cách. Đến khi nhìn kỹ lại chung quanh thì tảng đá nằm cách chỗ đứng chỉ hơn ba thước. Toán tôi đi nhanh quá nên đến mục tiêu trước; một hồi sau vị sĩ quan giám khảo mới tới.

Thế rồi tất cả các toán di hành đến điểm tập trung trên đường lộ cách đó khoảng hai cây số. Đoạn cuối, mọi người phải đi nhanh gấp đôi. Đường mưa ướt át khó đi, nhiều đứa rớt lại ở đàng sau nên bị lãnh phạt làm tạp dịch cuối tuần. Xe buýt chở chúng tôi trở về doanh trại.

Ngày 12 tháng Giêng, 1967.

4:30am
Sau khi làm vệ sinh cá nhân và ăn sáng, chúng tôi lại khoác lên người y phục chống mưa để lội bộ một dậm rưỡi đến lớp học liên lạc truyền tin. Chúng tôi phải đứng ngoài lạnh 42 độ F chờ gần cả giờ đồng hồ trước khi lớp học bắt đầu. Chúng tôi học cách đặt giăng giây điện thoại trên trận địa và cách lắp đặt máy điện thoại. Ăn trưa xong, chúng tôi học cách dùng hệ thống điện thoại. Xong một ngày học về đến doanh trại, chúng tôi được đi ngủ sớm lúc 9:30 tối vì sẽ phải thức muộn vào tối hôm sau.

Ngày 13 tháng Giêng, 1967.

Hôm nay là ngày Thứ Sáu 13 tây, thiệt đúng là ngày xui! Bốn giờ rưỡi sáng, chúng tôi mắt nhắm mắt mở bật dậy, 15 phút sau đã tập họp đi ăn, 5 giờ 30 lên xe buýt đi học bài địa bàn môn chiến thuật. Chúng tôi nghe giảng lý thuyết với 15 phút nghỉ giải lao cho mỗi giờ học trong suốt ngày nghiên cứu bản đồ diện địa. Sau bữa ăn tối, chúng tôi bị bắt học 2 giờ dùng địa bàn định hướng ban đêm. Chúng tôi phải chạy trong bóng đêm một khoảng đường dài 3 dậm. Dù có mặc áo mưa nhưng nước mưa cũng len ngấm vào người như thường. Chúng tôi phải mất 2 giờ 16 phút mới chạy tới nơi với kết quả thật không ngờ là toán của chúng tôi đến mục tiêu trước tiên và phải chờ gần hai tiếng đồng hồ toán chót mới tới nơi. Về tới doanh trại lúc 11:30, tôi lăn ra ngủ như chết.

Thứ Bảy 14 tháng Giêng, 1967.

Bốn giờ rưỡi sáng thức dậy, chúng tôi ăn sáng xong rồi làm vệ sinh doanh trại và đồ đạc cá nhân suốt cả buổi sáng. Một giờ trưa, chúng tôi được tin cho nghỉ ngơi cả cuối tuần. Tức khắc tôi đi ngủ cho tới năm giờ rưỡi sáng hôm sau. Chủ nhật ăn sáng, đi lễ nhà thờ, viết thơ và xem TV cho tới sáu giờ rưỡi chiều. Thế là xong tuần lễ đầu tiên! Có thì giờ rảnh rang cho riêng mình thật là sướng. Tôi ngắm mặt trời lặn lần đầu tiên kể từ khi xa nhà. Gió khá mạnh. Tiếc thay, 15 phút nữa là tới giờ phải tắt đèn đi ngủ.

Thư: Ngày 29 tháng Giêng, 1967.

Thưa ba mẹ,

Thế là đã ba tuần lễ con ở đây. Trong ba tuần đó con để ý thấy chỉ có bốn ngày là không mưa. Chương trình huấn luyện tuần vừa qua có vẻ nặng nề hơn. Tụi con phải ra bãi tác xạ từ sớm mỗi ngày để tập bắn súng tự động cá nhân M-14 A1 và súng đại liên M-60. Con đạt được điểm tối đa môn thi M-60, khoái thật vì môn đó không phải dễ ăn. Con cũng hi vọng sẽ đạt được điểm “thiện xạ” môn bắn M-14 A1 trong cuộc thi bắn Thứ Hai tới.

Tuần tới có mòi gay hơn vì tụi con phải chuẩn bị thi trắc nghiệm tài năng cho tuần lễ thứ tư. Thứ Tư con lãnh lương. Con cũng đang cần có tiền để mua đồ trận 18 đồng và vài thứ trang phục. Chắc chỉ trong ngày đầu tiên, con sẽ tiêu khoảng phân nửa số tiền lương con lãnh.

Con vẫn khỏe có điều con không hiểu sao mình hay cảm thấy ướt lạnh cả ngày. Chắc tại vì điều kiện thể lực của con tốt. Ba mẹ có tin không: tụi con chạy một mạch không nghỉ sáu dặm hôm Thứ Năm vừa rồi với một cây súng nặng 11 cân, túi đeo lưng 7 cân và đồ mặc chống mưa như áo nhựa, giày ống bằng cao su gần 5 cân nữa. Vậy mà vẫn đến đích đúng giờ! Thế mới chì!



in-left:-144px">ochondrial DNA53Lowest common ance
kensington canada gé

カナダのガチョウアウトレットトロント
canada ganso chicago
canada goose naisten takki

Phan Hạnh viết gì

Just another WordPress.com weblog

jump to navigation

Toronto, Thành Phố Di Dân Tháng Bảy 10, 2017

Posted by phanhanh in Uncategorized.
add a comment

Toronto, Thành Phố Di Dân
PHAN HẠNH

Vùng Đại thủ phủ Toronto có 5.5 triệu dân (riêng thành phố Toronto là 2.5 triệu) được coi là một trong những thành phố đa văn hóa lớn nhất trên thế giới và là đại đô thị an toàn nhất của Bắc Mỹ. Theo dữ liệu do Sở Thống Kê Canada đưa ra năm 2006, Toronto có nhiều sắc dân khác nhau hơn các thành phố New York, Los Angeles và Miami.

Cư dân Toronto nói 140 ngôn ngữ và thổ ngữ khác nhau và hơn 30% dân số nói tiếng khác hơn tiếng Anh và tiếng Pháp ởi đến Canada chọn Toronto để định cư. Số di dân ở Toronto chiếm 1/5 của tổng số di dân trên toàn quốc. Hơn 30% di dân Toronto không nói tiếng Anh hoặc tiếng Pháp ở nhà.

Ngôn ngữ lạ được dùng ở nhà nhiều nhất là tiếng Hoa (với 2/3 nói tiếng Quảng đông vQxM@fLg Tamil (tiếng Tích Lan), tiếng Ý, tiếng Tây ban nha và tiếng Bồ đào nha. Chỉ có 5% di dân là không nói được tiếng Anh hay tiếng Pháp. 2% nói được hai thứ tiếng lạ trở lên ở nhà, như trường hợp người Việt gốc Hoa chẳng hạn.

Năm 2006, dân số Toronto bằng 8% dân số trên toàn quốc. 30% di dân mới đến Canada chọn Toronto để định cư. Số di dân ở Toronto bằng 1/5 tổng số di dân trên toàn quốc.
Trong khoảng thời gian 5 năm từ 2001 đến 2006, Canada tiếp nhận tổng cộng 1,109,980 người từ khắp nơi trên thế giới. 267,855 người (tương đương 25%) di dân nầy chọn Toronto làm nơi sinh sống, tức vào khoảng 55,000 người mỗi năm.

Phân nửa dân số Toronto (1,237,720 người) sinh ra từ nước khác ngoài Canada, gia tăng 48% so với mười năm về trước. Trong năm 2006, phân nửa số di dân Toronto cư ngụ ở Canada chưa đầy 15 năm. Hơn phân nửa trên 25 tuổi, 7% chưa đầy 5 tuổi, 16% từ 6 đến 14 tuổi, và 22% từ 15 đến 24 tuổi. Trong năm 2006, số dân cư trong thành phố Toronto bằng 45% tổng số cư dân của toàn vùng đại thủ phủ, 52.4% là di dân. So với toàn tỉnh bang Ontario, tỉ số di dân trong thành phố Toronto là 36%. 47% dân số Toronto khai họ thuộc thành phần dân thiểu số, tăng 42.8% so với 5 năm trước.

Dân thiểu số hiển nhiên ở Toronto gia tăng 10.6% so với năm 2001 và 31.8% so với năm 1996.Năm nhóm dân thiểu số hiển nhiên đứng đầu ở Toronto là:
• Gốc Nam Á với 298,372 người, bằng 12%
• Gốc Trung Hoa với 283,075 người, bằng 11.4%
• Gốc châu Phi với 208,555 người, bằng 8.4%
• Gốc Phi-luật-tân với 102,555 người, bằng 4.1%
• Gốc châu Mỹ La Tinh với 64,860 người, bằng 2.6%.

Sở Thống Kê Canada định nghĩa người thiểu số hiển nhiên (visible minorities) là những người không thuộc các nhóm người da trắng và thổ dân Bắc Mỹ (người da đỏ). Do đó, có thể nói người thuộc sắc dân da vàng và da ngâm đen được coi là người thiểu số hiển nhiên. Từ năm 1981 đến năm 2006, dân thiểu số hiển nhiên ở Canada tăng gấp bốn lần, từ 1.1 triệu năm 1981 lên 5 triệu năm 2006. Trên toàn quốc, 96% dân thiểu số hiển nhiên tập trung sinh sống ở các đại đô thị, so với 68% dân số nói chung. Điều này dễ hiểu, vì người di dân có khuynh hướng chọn những thành phố lớn để định cư, nơi mà họ thể gần gũi với người đồng hương để tìm sự đùm bọc giúp đỡ.
Bất chấp sinh quán và thời gian đặt chân đến Canada, mọi người phải khai báo gốc sắc tộc của mình tức thuộc giống dân nào. Họ có quyền khai báo hơn một sắc dân nếu thích hợp, và việc nầy xảy ra là thường. Những người hay khai có hai hoặc nhiều hơn gốc sắc dân thường là những người có gốc gác ở châu Âu; ông cha của họ sống ở Canada đã nhiều thế hệ và dễ bị pha trộn. Người mới đến thường khai báo chỉ thuộc một gốc sắc dân mà thôi.
Thống kê dân số năm 2006 cho thấy cư dân Toronto thuộc hơn 200 sắc dân khác nhau. Trong số nầy, 28% có gốc châu Âu, 19% gốc đảo quốc Anh (gồm Anh cát lợi, Tô cách lan và Ái nhĩ lan), 16% gốc Đông Á và Đông Nam Á, và 10% gốc Nam Á.
Cư dân Vùng Đại Đô Thị Toronto thuộc nhóm thiểu số hiển nhiên là: 684,070 người Nam Á (Ấn Độ, Pakistan, Sri Lanka, Bangladesh, Fiji), 486,330 người Hoa, 352,220 người da đen, 171,980 người Phi luật tân, 99,295 người châu Mỹ La Tinh, 75,475 người Tây Ấn (Iran, Iraq, Syria, Palestine, v.v.), 70,215 người Đông Nam Á, 55,265 người Đại Hàn, 53,430 người Ả Rập, 19,010 người Nhật.
Cư dân Toronto thuộc nhóm thiểu số hiển nhiên là: 298,370 người Nam Á, 283,075 người Hoa, 208,555 người da đen, 102,555 người Phi luật tân, 64,855 người châu Mỹ La Tinh, 42,755 người Tây Á, 37,495 người Đâong Nam Á, 34,220 người Đại Hàn, 22,485 người Ả Râp, 11,965 người Nhật.
Theo dự đoán, dân số thành phố Toronto vào năm 2031 sẽ là 3 triệu người và dân số Vùng Đại Đô Thị Toronto sẽ là 7.5 triệu hoặc cao hơn.
Trong năm 2006 có 1,162,630 cư dân Toronto là người thiểu số hiển nhiên, bằng 46.9%.
Trong số nầy, hết 70% là người châu Á. Mỗi năm, phân nửa di dân mới vào Canada chọn Toronto làm nơi định cư.
47% cư dân Toronto có sinh ngữ mẹ đẻ khác với Anh-Pháp ngữ. Năm ngôn ngữ khác được dùng nhiều nhất ở Toronto là: Hoa ngữ với 420,000 người dùng; Ý với 195,000 người dùng, Punjabi với 138,000 người dùng, Tagalog/Pilipino với 114,000 người dùng, Bồ đào nha với 113,000 người dùng.
Về tôn giáo, người theo Thiên chúa giáo nhiều nhất với 33.4%, Tin Lành 6.9%, Hồi giáo 6.7%, Ấn độ giáo 4.8%, Do thái giáo 4.2%, Phật giáo 2.1%.
Các khu tập trung di dân
Là một thành phố đa văn hóa tiêu biểu, Toronto có nhiều khu vực di dân cùng gốc gác tụ tập lại với nhau tạo thành các Phố Tàu, Phố Hàn, Phố Ý, Phố Ấn, Phố Hy Lạp, vân vân, nhưng chưa có một Phố Việt đặc thù như các Little Saigon ở Mỹ. Thành lập được hẳn một khu phố buôn bán riêng cho cộng đồng di dân của mình là một niềm tự hào chính đáng. Nhưng di dân gốc Việt ở Toronto dễ dàng hòa nhập vào các Phố Tàu vốn đã thiết lập sẵn từ trước khi làn sóng người Việt đến đây. Di dân Trung Hoa có mặt ở Toronto từ năm 1878, trước người Việt chúng ta một thế kỷ.
Thêm một yếu tố nữa là cộng đồng người Trung Hoa đông mạnh gấp mười lần cộng đồng người Việt, trong số đó có cả thành phần rất đáng kể là người Việt gốc Hoa; sự hòa nhập càng có nhịp cầu dễ dàng hơn.
Sự hòa nhập nầy thể hiện rõ nét nhất tại Phố Tàu Spadina-Dundas với nhiều bảng hiệu chữ Việt xuất hiện xen kẽ với các cửa hiệu người Hoa. Sự có mặt của tiệm Việt thưa dần tại các khu Phố Tàu khác ở Broadview-Gerrard, Phố Tàu Mississauga, North York, Scarborough, Markham và Vaughan.

Chưa có một khu phố riêng biệt mang sắc thái Việt Nam rõ nét, chưa có một trung tâm cộng đồng riêng cho mình để sinh hoạt, chúng ta đừng lấy đó làm buồn. Nhiều cộng đồng di dân khác đông hơn chúng ta, lâu đời hơn chúng ta, nhưng vẫn chưa làm được điều đó. Như trường hợp cộng đồng người Phi luật tân chẳng hạn: họ đông gấp ba lần cộng đồng chúng ta, họ có mặt ở đây trước chúng ta cả mấy chục năm, nhưng họ sống tản lạc khắp nơi và không có một khu phố riêng.

Cộng đồng người Hy Lạp và Phố Hy Lạp

Phố Hy Lạp nằm trên đường Danforth Avenue khoảng giữa đường Chester Avenue và Dewhurst Boulevard nằm về phía đông trong thành phố. Đây là nơi tập trung người Hy Lạp hải ngoại đông nhất trenn thế giới và cũng là nơi có mật độ cao nhất về số lượng các quán ăn trên một cây số vuông. Vì thế vào tháng Tám hàng năm Phố Hy Lạp có tổ chức một lễ hội mang tên Taste of Danforth kéo dài trong ba ngày để công chúng và du khách đến thưởng thức hương vị thức ăn Hy Lạp là chính, nhưng đồng thời còn có nhiều thức ăn vùng khác nữa. Lễ hội có sân khấu trình diễn ca nhạc, các trò chơi thể thao và trò chơi giải trí cho trẻ em. Lễ hội diễn ra ngay trên mặt đường Danforth Avenue khiến mọi lưu thông xe cộ đều bị ngăn cấm.

Với các nhà phố vẫn còn giữ phong cách kiến trúc cổ, với sự cải tiến và canh tân gần đây cùng với sự thành lập một công viên nhỏ ở ngã tư Danforth-Logan, Phố Hy Lạp trở nên sang trọng hơn và được nhiều du khách đến thăm viếng hơn. Năm 2008, lễ hội Taste of Danforth thu hút một triệu người tham dự, so với con số khiêm nhường năm ngàn người vào năm 1994.

Di dân HyLạp đầu tiên đến Toronto từ năm 1909. Tính đến năm 2006, cộng đồng người Hy Lạp ở Toronto là 150,000 người trên tổng số 243,000 người Hy Lạp trên toàn quốc Canada. Nhiều di dân Hy Lạp ở Canada thành công trong các lãnh vực kinh doanh, báo chí, truyền thông, kịch nghệ, chính trị và thể thao.
Tony Clement, cựu dân biểu tỉnh bang Ontario và hiện là dân biểu liên bang thuộc Đảng Bảo Thủ nguyên là một di dân đến Canada từ lúc còn bé, có cha là người Hy Lạp và mẹ là người Canada. Tên khai sinh của ông là Tony Panayi, sau đó đổi theo họ của cha ghẻ là chính trị gia Ontario John Clement. Các dân biểu tại chức người Canada gốc Hy lạp khác là Sophia Aggelonitis, John Cannis, Jim Karygiannis.
Một di dân gốc Hy Lạp nổi tiếng khác là Mike Lazaridis, nhà sáng lập công ty Research In Motion (RIM) chế tạo ra máy điện toán cầm tay BlackBerry. Gia đình ông từ Thổ nhĩ kỳ di dân sang Canada năm 1966 khi ông còn là một cậu bé 5 tuổi. Từ năm 2004 tới năm 2009, vợ chồng ông hiến tặng cho Trường Đại Học Waterloo một số tiền tổng cộng là 225.5 triệu Gia kim. Năm 2000, ông được trường này trao bằng tiến sĩ kỹ sư danh dự và ba năm sau, trở thành viện trưởng của trường.
Những người Việt tị nạn đặt chân đến Toronto trong những thập niên trước chắc không quên Chợ Đầu Bò mà vị chủ nhân của nó, ông Steve Stavro, cũng là một di dân Hy Lạp. Stavro cùng gia đình đến Toronto để đoàn tụ với cha đã sang đây trước vào năm 1927. Cậu bé bảy tuổi giúp cha trông coi một cửa tiệm tạp hóa trên đường Queen gần đường Coxwell. Học hết lớp 10, Steve phải nghỉ học để làm việc toàn giờ, dần dà mở tiệm tạp hóa riêng năm 1954 và đặt tên Knob Hill Farms tại địa chỉ 425 Danforth Avenue. Chợ Đầu Bò phát triển mạnh với những tiệm khổng lồ có diện tích lên đến 31,500m2 lớn nhất thế giới. Ông được ban tặng huân chương Order of Canada năm 1992. Năm 2000, hệ thống Chợ Đầu Bò đóng cửa; ông Stavro mất 6 năm sau đó, hưởng thọ 78 tuổi.
Cộng đồng người Ý và Phố Ý

Toronto có hai Phố Ý, một nằm trên đường College Street giữa Grace Street và Palmerston Avenue có tên gọi là Little Italy và một nằm trên đường St. Clair Avenue West giữa Oakwood Avenue và Lansdowne Avenue mang tên Corso Italia.

Từ đầu thế kỷ thứ 20, một đợt di dân ồ ạt gồm hàng nhiều trăm ngàn người Ý đến định cư ở Canada, phần lớn tập trung ở hai thành phố Montréal và Toronto. Đợt đi dân thứ nhì xảy ra sau khi Thế Chiến thứ hai chấm dứt khi nước Ý còn nghèo khó và Canada là vùng đất cơ hội đầy quyến rũ. Đến thập niên 1960, nước Ý vươn mình trở thành một quốc gia có nền kinh tế thịnh vượng, ít có công dân Ý nào thích di dân sang Canada nữa.

Thống kê năm 2006 cho thấy Toronto có 467,000 cư dân gốc Ý trong tổng số gần 1.5 triệu người Canada gốc Ý trên toàn cõi Canada.
Little Italy ngày nay thu hút nhiều cơ sở thương mại của cư dân thuộc cả nhiều sắc tộc khác như Bồ đào nha, và Mỹ La Tinh. Trung tâm điểm của Little Italy Toronto là ngã tư College Street và Grace Street và lan dần đến ngã tư Dufferin-Bathurst. Chu vi giới hạn của Little Italy không thể xác định một cách rõ ràng vì dân cư không ngừng thay đổi nơi cư trú.
Corso Italia, Italy Course theo Anh ngữ, là một Phố Ý khác trong thành phố Toronto. Cũng giống như Little Italy trên đường College, Corso Italia dần dần lôi cuốn nhiều sắc dân khác tới làm ăn buôn bán, nhiều nhất là người gốc Bồ đào nha và Mỹ LaTinh.
Những gia đình cư dân gốc Ý đã ổn định cuộc sống và trở nên khá giả đã dời lên khu vực Woodbridge của thành phố Vaughan trù phú, chiếm gần phân nửa tổng số dân cư của khu vực nầy. Phố Ý Woodbridge nằm trên đường Woodbridge Avenue khoảng giữa hai đường Islington và Kipling và phía bắc của xa lộ HWY 7. Woodbridge là nơi thường xảy ra các cuộc đua xe hơi lén lút về đêm của đám thanh niên trẻ.
Một nhân vật nổi tiếng gắn liền với cộng đồng người Canada gốc Ý ở Toronto là Johnny Lombardi, người sáng lập ra đài phát thanh truyền hình đa văn hóa đầu tiên ở Canada là đài CHIN năm 1966 với chương trình bằng 32 ngôn ngữ khác nhau. Trong số các diễn biến mang tính cách đa văn hóa đài CHIN tổ chức hàng năm, CHIN Picnic là đáng chú ý hơn cả. Đây là cuộc thi áo tắm bikini diễn ra ở Exhibition Place dịp hè mỗi năm kéo dài cả tuần lễ tổ chức lần đầu tiên năm 1967 cho đến nay.
Johnny Lombardi là con của một cặp vợ chồng di dân Ý, chào đời ở Little Italy năm 1915, gia nhập quân đội Canada trong đệ nhị thế chiến, mở một siêu thị tại địa chỉ 637 College Street sau khi giải ngũ, trở thành ông bầu tổ chức các buổi hòa nhạc và các cuộc tranh tài thể thao rồi đi vào lãnh vực truyền thanh cho đến khi chết năm 2002.
Một di dân gốc Ý thành đạt ở Toronto là Michael Colle, từng giữ chức vụ Bộ Trưởng Di Trú và Công Dân Vụ của tỉnh bang Ontario. Ông sinh năm 1945 ở Ý, theo gia đình đến Toronto định cư từ nhỏ, từng giữ các chức vụ giáo viên môn sử trường St. Michael’s College School Toronto, hội viên hội đồng thành phố, chủ tịch TTC, đắc cử dân biểu tỉnh bang năm 1995 và tái đắc cử trong 4 nhiệm kỳ liên tiếp.
Cộng đồng Ukrainian và Phố Bloor West Village
Phố này nằm trên đường Bloor giữa hai đường Runnymede và Jane, một khu phố ngăn nắp lịch sự mang dáng vẻ châu Âu, là nơi qui tụ của cộng đồng người gốc Ukrainian, Ba Lan và các nước Đông Âu.
Người Ukrainian có mặt ở Toronto từ đầu thế kỷ thứ 19 khi Cuộc chiến tranh 1812 giữa Mỹ và Đế quốc Anh xảy ra. Đó là những người lính đánh thuê trong hai tiểu đoàn Meuron và Matterville của quân đội Anh. Sau chiến tranh, những người này được cấp đất đai vùng Perth, Ontario và Winnipeg, Manitoba. Tuy nhiên, phải đợi đến cuối thế kỷ đó, người di dân Ukrainian mới đến Canada đông đảo. Trong hai thập niên trước khi thế chiến thứ nhất xảy ra, 180,000 người Ukrainian di cư sang Canada, phần lớn đi định cư ở các tỉnh bang bình nguyên, phần còn lại chọn Ontario. Đợt di dân thứ nhì sau thế chiến thứ hai của người Ukrainian đến Canada gồm khoảng 40,000 người; ba phần tư chọn Ontario.
Tại Toronto, sự có mặt của người Ukrainian thể hiện qua các nhà thờ, hàng quán, các diễn biến văn hóa và các viện di sản, hiệp hội và trung tâm cộng đồng. Học viện St. Vladimir Institute tại địa chỉ 620 Spadina Avenue được thành lập năm 1969 có một thư viện gồm hơn 15,000 sách văn chương, ngôn ngữ và lịch sử Ukrainia, là nơi gặp gỡ học tập và sinh hoạt để duy trì bản sắc dân tộc. Viện bảo tàng Shevchenko tại địa chỉ 1614 Bloor Street West là viện bảo tàng Ukrainian duy nhất ở châu Mỹ, là nơi trưng bày một số cổ vật và tác phẩm nghệ thuật, phòng trưng bày tranh ảnh, tác phẩm và kỷ vật của Taras Shevchenko, một khuôn mặt có ảnh hưởng rất lớn trong nền văn chương và nghệ thuật Ukrain và thế giới.
Lễ hội Toronto Ukrainian Festival được tổ chức hàng năm ở Bloor West Village kể từ 13 năm nay; số người tham dự lên đến 300,000. Cuộc diển hành hàng năm có cả sự tham dự của các đoàn vũ Ukrainian và của các sắc dân khác như Slovak, Ái nhĩ lan và thổ dân da đỏ Canada.

Một số người Canada gốc Ukraine nổi tiếng là cầu thủ huyền thoại hockey Wayne Gretzky, bác sĩ phi hành gia Roberta Bonda, cựu Thủ hiến Ontario Ernie Eves, cựu Thủ hiến Manitoba Gary Filmon, cựu Toàn quyền Ramon Hnatyshyn, cựu Thủ hiến Saskatchewan Roy Romanov.

Cộng đồng người Do Thái và Phố Do Thái Toronto

Trước thế kỷ thứ 20, số người di dân Do Thái có mặt ở Toronto không đáng kể; phần lớn đều nghèo khó và buôn bán da thú, đồ cũ, vật liệu phế thải tập trung ở khu đường Spadina Avenue và Simcoe St. Vào năm 1871 Toronto chỉ có 157 cư dân gốc Do Thái. Qua năm 1891, con số này lên thành 1,425, năm 1901 là 3,090 người, 1911: 18,237 người, 1921: 34,619 người, năm 1941: 49,046, 1951: 66,773. Sự phát triển mạnh về kinh tế trong thập niên 1960 công thêm với phong trào Québec đòi ly khai đã khiến cho nhiều người Do Thái ở Montréal dời đến Toronto. Năm 1971, dân số Do Thái ở Toronto là 105,000 người, năm 1981: 128,650 người, 1991: 162,605 người. Năm 1976, khi đảng Quebecquois thắng cuộc bầu cử tỉnh bang, có từ 20,000 tới 30,000 người Do Thái dời về Toronto. Toronto trở thành thành phố có nhiều cư dân gốc Do Thái nhất Canada.

Đến nay có gần 180,000 người gốc Do Thái cư ngụ trong vùng Đại dô thị Toronto với một phần ba là người di dân và hai phần ba sinh ra ở đây, 114,000 sống trong thành phố Toronto và phần còn lại sống rải rác ở ngoại ô. Kensington Market ngày nay vẫn còn được người Việt chúng ta quen gọi là Chợ Do Thái vì thật ra đó là khu vực mua bán của di dân gốc Do Thái ngày trước.

Khu vực bao bọc bởi các đường Finch, Bayview, Steeles và Bathurst có mật độ dân cư gốc Do Thái cao nhất Toronto, chiếm 52% trên tổng số dân cư. Thứ nhì là khu Thornhill (Vaughan) với 50.7%. Người gốc Do Thái thuộc giới trẻ có khuynh hướng rời khỏi trung tâm thành phố để ra sống ở vùng ngoại ô hoặc thành phố lân cận phía bắc. Đa số người già ở lại trong khu Phố Do Thái Bathurst. Mức tuổi trung bình của cư dân gốc Do Thái trong khu vực nầy là 54 tuổi.

Người Canada gốc Do Thái thành công vượt trội trong các lãnh vực chính trị, hàn lâm, khoa học, ngân hàng, văn chương, tư pháp, kinh doanh. Riêng thành phố Toronto có nhiều khuôn mặt Do Thái nổi tiếng. Mel Lastman từng là một đứa trẻ rao bán trái cây ở Kensington Market, lớn lên mở tiệm bán bàn ghế giường tủ Bad Boy Furniture, sau đắc cử chức vụ thị trưởng North York, thị trưởng đô thị sáp nhập Toronto trong nhiều nhiệm kỳ liên tiếp. Một cư dân Toronto gốc Do Thái khác nữa được mọi người biết đến là Ed Mirvish, chủ nhân của tiệm bách hóa bình dân Honest Ed trên đường Bloor góc Bathurst. Ông được ban tặng huy chương cao quý Order of Canada do công đức và việc làm từ thiện.
Nếu bạn vào bất cứ quán McDonald’s nào ở Canada để mua một bữa ăn với món hamberger tức là bạn đang làm giàu thêm cho George Cohon, người sáng lập ra công ty McDonald’s ở Canada và ở Nga Sô. Ông vào quốc tịch Canada năm 1975. Qua năm 2000, ông được ban tặng Order of Canada. Nếu bạn có được một danh thiếp của ông ta, bạn có thể đem tới bất cứ tiệm McDonald’s nào ở Canada hoặc ở Nga Sô để đổi lấy một cái Big Mac ăn chơi.
Còn nếu bạn đi mua sắm ở tiệm Shoppers Drug Mart thì bạn sẽ làm giàu cho một ông Do Thái khác là Murray Koffler. Ông này cũng giàu quá cỡ, cũng làm từ thiện xã hội, cũng đóng góp và tài trợ cho bệnh viện, nên cũng được ban tặng Order of Canada năm 1992. Bạn mở đài CityTV để xem tin tức thì đó cũng thuộc một người gốc Do Thái ở Toronto làm chủ là Moses Znaimer. Danh sách còn dài lắm, không thể nào kể hết ở đây.

Cộng đồng Triều tiên và Phố Hàn
Chúng ta để ý thấy ở Toronto có khá nhiều nhà thờ Presbyterian thuộc Giáo hội Thống Nhất của đạo Tin Lành có bảng đề bằng chữ Đại Hàn vì thật ra những người di dân Triều Tiên đầu tiên đến Toronto đều là vì lý do tôn giáo. Vào năm 1948, một phái bộ truyền giáo Canada bảo trợ một chủng sinh người Triều Tiên tên Tae-yon Whang đến Toronto thực tập y khoa. Nhiều chủng sinh Triều Tiên khác lần lượt tới Toronto sau đó. Trong khoảng thời gian hai mươi năm liên tiếp đó, ngoài thành phần truyền giáo này và những thân nhân do họ bảo lãnh, hầu như rất ít người di dân Triều Tiên nào khác đến đây vì những nguyên nhân khác. Từ những năm cuối của thập niên 1960 trở về sau, người Triều Tiên thuộc mọi thành phần khác mới đổ xô di dân đến Toronto. Bác sĩ Tae-yon Whang hiện vẫn còn làm việc tại phòng mạch của ông ở Rosedale mãi cho đến những năm gần đây và được người đồng hương xem như là cha đẻ của cộng đồng họ tại Toronto.
Theo tài liệu của Bộ Di Trú Canada, phần lớn dân số Triều Tiên ở Canada đều là di dân từ nước ngoài vào. Vào năm 2001, con số này là 70%, và đa số họ đến Canada chỉ trong thời gian mười năm gần đây thôi. Thật vậy, trong tổng số di dân Triều Tiên ở Toronto, 4% đến đây trước năm 1971, 17% đến đây trong thập niên 1970, 19% đến trong thập niên 1980, và 60% trong thập niên 1990.
Chính sách di dân cởi mở hơn của Canada năm 1967 đưa đến một làn sóng di dân đông đảo đến Tornto. Tới năm 2001 đã có 50,000 người gốc Triều Tiên ở Toronto, phần lớn cư ngụ quanh khu vực Bloor và Bathurst, biến một đoạn đường Bloor giữa Bathurst và Christie thành Phố Hàn với trung tâm điểm là ngã tư Bloor-Manning. Tiệm tạp hóa, nhà hàng ăn, võ đường thái cực đạo, quán karaoke, tiệm bánh, tiệm bán kỷ vật, đại lý xuất nhập cảng, hãng địa ốc, hãng bảo hiểm, hãng không du lịch lần lượt mọc lên. Khi đội túc cầu Đại Hàn tranh tài World Cup năm 2002 và 2010 thắng một trận, không khí Phố Hàn Toronto sôi động hẳn lên.
Từ năm 1990 trở đi, một Phố Hàn khác mọc lên trên đường Yonge ở khoảng giữa Sheppard và Steeles, thuộc khu vực Willowdale, thu hút giới trẻ thuộc thế hệ sau với lợi tức cao hơn nên phố này cũng sinh động hơn. Phần lớn sinh viên Đại Hàn du học Canada cư ngụ trong khu này. Ngày nay, người Canada gốc Triều Tiên ở Toronto tương đối khá giả làm những nghề như thương gia, thợ chuyên nghiệp, người làm nghề chuyên môn như giáo sư, kỹ sư, bác sĩ, v.v.

Một trong những công dân Canada gốc Triều Tiên nổi tiếng nhất là nữ diễn viên truyền hình và điện ảnh Sandra Oh. Tuy không đẹp nhưng với tài diễn xuất tuyệt vời, Sandra Oh được mời thủ diễn rất nhiều vai trò nổi bậc trong các chương trình truyền hình và điện ảnh của Canada lẫn Hoa Kỳ. Với cha mẹ là di dân đến Canada trong thập niên 1960, Sandra sinh ra ở Nepean, Ontario năm 1971, theo học và tốt nghiệp ngành kịch nghệ năm 1993. Sandra Oh được trao giải Genie Awards của Canada (tương tự như giải Oscar của Mỹ), một lần đoạt giải Quả Cầu Vàng (Golden Globe Awards), và một số các giải thưởng quốc tế khác. Cô hiện đóng vai bác sĩ Cristina Yang trong chương trình truyền hình Grey’s Anatomy từ năm 2005 cho đến nay.
Một nhân vật người Triều Tiên nổi tiếng khác ở Toronto là Hwang In Shik, đệ nhất võ sư hiệp khí đạo, người đã từng huấn luyện cho tài tử võ thuật Hồng Kông như Bruce Lee, Jackie Chan và Angela Mao. Ông là võ sư thượng thừa được Hiệp Hội Hiệp Khí Đạo Thế Giới